Các dạng đề mở rộng trong Hạnh phúc của một tang gia

   Các dạng đề mở rộng trong Hạnh phúc của một tang gia

 

Các dạng đề mở rộng trong Hạnh phúc của một tang gia là các đề liên hệ liên quan đến đoạn trích mà các em có thể sẽ gặp trong các bài kiểm tra hay các bài thi. Cùng tham khảo một số dạng đề cùng hướng dẫn làm bài để mở rộng vốn kiến thức và kỹ năng làm bài của mình em nhé!

Xem thêm:

CÁC DẠNG ĐỀ LIÊN HỆ HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA THƯỜNG GẶP

Dạng đề 1

Về văn học trào phúng, có ý kiến cho rằng: “Đó là một khái niệm bao trùm lĩnh vực văn học của tiếng cười

(Từ điển thuật ngữ văn học, Nhiều tác giả,

NXB Giáo dục, 2008, trang 303)

Cảm nhận của anh/chị về tiếng cười của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)

Hướng dẫn làm bài

  1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận:
  2. Giải thích

– Trào phúng có nghĩa là dùng lời lẽ khôi hài để mỉa mai, cười nhạo kẻ khác. Tiếng cười thường được tạo ra khi người ta phát hiện ra mâu thuẫn trào phúng, đó chính là sự mâu thuẫn hay không tương xứng giữa bản chất và biểu hiện, giữa mục đích và phương tiện, đặc biệt là giữa nội dung (xấu xa) và hình thức (đẹp đẽ). Muốn tiếng cười xuất hiện, đối tượng phải mang tính hài, đối tượng được miêu tả bằng bút pháp phóng đại, biếm hoạ, giọng văn giễu nhại.

– Văn học của tiếng cười là một khái niệm chỉ tất cả các thể loại, các tác phẩm văn học mang cảm hứng trào phúng, sử dụng bút pháp trào phúng, lấy tiếng cười làm mục đích hài hước, phương tiện bộc lộ thái độ chế giễu, mỉa mai, phê phán cái xấu, cái đáng cười. Đó là ca dao hài hước, trào phúng, truyện cười dân gian, thơ trào phúng (của Nguyễn Khuyến, Tú Xương…), truyện trào phúng (của Nguyễn Công Hoan…)

– Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là tác phẩm xuất sắc của văn học hiện thực trào phúng giai đoạn 1930-1945.

  1. Tiếng cười của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích

    * Đối tượng của tiếng cười

– Cười xã hội thượng lưu thành thị đương thời. Xã hội thu nhỏ trong đoạn  trích gồm đám động những nhân vật có tên và không tên

– Nhân vật có tên: các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng (Văn Minh, Cụ cố Hồng, Tuyết, Tú Tân..) các thành viên khác (Typn, cảnh sát…)

– Nhân vật không tên: những người đưa đám

– Tất cả đều chứa đựng sự mâu thuẫn giữa vẻ bề ngoài buồn rầu, đau khổ, văn minh, chí hiếu và bản chất bên trong vui vẻ, sung sướng, bất hiếu, vô văn hoá…

* Mục đích tiếng cười

– Tác giả phê phán mãnh liệt bản chất lố lăng, đồi bại của xã hội thượng lưu thành thị, muốn tống tiễn nó vào cõi chết

* Nghệ thuật tạo tiếng cười

– Xây dựng tình huống trào phúng cơ bản: hạnh phúc của gia đình có tang

– Xây dựng hình tượng đám đông bằng nghệ thuật biếm hoạ: cường điệu, nói ngược, tạo chi tiết nghệ thuật đặc sắc

– Sử dụng lời văn:

+ Đặt câu chứa đựng mâu thuẫn, nghịch lí (giữa hai vế trong một câu, giữa hai câu gần nhau)

+ Tạo giọng văn hài hước

  1. Đánh giá

–  Hạnh phúc của một tang gia là chương truyện đặc sắc của tiểu thuyết: chương truyện đã hội đủ các nhân vật của toàn tiểu thuyết và đã thu nhỏ bộ mặt xã hội tư sản thành thị với tất cả bản chất xấu xa của nó: háo danh, hám lợi, giả tạo, rởm đời, vô văn hoá và bao trùm là thói đạo đức giả.

– Chương truyện cũng tiêu biểu cho bút pháp trào phúng của Vũ Trọng Phụng nói riêng, của văn học trào phúng nói chung.

 

Dạng đề 2

Phân tích hai chi tiết bữa cơm ngày cưới trong truyện ngắn Vợ Nhặt (Kim Lân) và cảnh đám tang trong Hạnh phúc một tang gia (Vũ Trọng Phụng) để làm rõ nhận định “một đám cưới thiếu tất cả mà đầy đủ tất cả, một đám ma có tất cả mà lại chẳng có điều gì”.

Hướng dẫn làm bài

  1. Mở bài

– Những nghịch lý, mâu thuẫn luôn là một phương diện của xã hội, nhất là khi xã hội ấy đang rối ren, bế tắc trong cảnh đói nghèo của năm 1945 hay đang bát nháo, giả dối trên con đường Âu hóa ở thành thị. Hãy nhìn vào cái đám cưới qua ngòi bút xây dựng tình huống truyện của Kim Lân trong truyện ngắn Vợ nhặt và cái đám ma được viết bằng nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích Hạnh phúc một tang gia, để thấy được rằng “một đám cưới thiếu tất cả mà đầy đủ tất cả, một đám ma có tất cả mà lại chẳng có điều gì”

  1. Thân bài
  2. Cảnh đám cưới trong truyện ngắn Vợ Nhặt

– Tóm tắt tình huống truyện Tràng nhặt được vợ: Tràng là dân xóm ngụ cư nghèo khổ lại xấu xí. Trong cơn đói quay quắt và người chết như ngả rạ, Tràng lại “cưới” một cô vợ nghĩa là thêm một miệng ăn.

– Những cái không có hoặc không bình thường trong “đám cưới”: Đám cưới ở đây được hiểu hoàn toàn theo nghĩa bóng là hai người lấy nhau, về sống cùng nhau trong một mái nhà chứ không hề có một sự chuẩn bị, tổ chức hay bất cứ dấu hiệu nào của cái đám vui.

+ Không có dạm hỏi, làm quen hay mai mối, cũng không hề tìm hiểu nhau như những cái đám cưới bình thường. Lí do Thị theo Tràng về nhà chỉ bằng vài ba câu bông đùa và bốn bát bánh đúc. Để bám víu, tầm gửi thân phận trong cảnh đói khổ Thị đã không hề suy nghĩ lựa chọn cho quyết định của mình còn Tràng thì sự tình đến bất ngờ khiến Tràng chỉ “chậc, kệ” phó mặc cho cuộc đời.

+ Không có sính lễ của đàng trai cũng không có của hồi môn bên đàng gái. Món quà mà Tràng cho vợ ngày cưới là “cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt”.

+ Đám cưới chẳng hề có một quan khách hay họ hàng nào đến chia vui bởi vì nghèo túng miếng cơm còn không có ăn thì lấy đâu đãi khách khứa “kể ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này”

+ Đêm tân hôn diễn ra trong căn chòi rúm ró, phên nứa rách nát lại có tiếng khóc tỉ tê bên ngoài vọng vào.

+ Thảm hại nhất là bữa ăn sáng hôm sau ngày gia đình chào đón nàng dâu mới. Đã không có mâm cao cổ đầy để ra mắt họ hàng lại chẳng được bữa cơm thịnh soạn cho ra hồn “giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo… Nồi cháo lõng bõng, mỗi người ăn có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn”. Bữa ăn bị gián đoạn và sự xuất hiện bất ngờ của nồi “chè khoán” – thật ra là món cháo cám chát đắng, thức ăn lẽ ra của động vật chứ không phải con người.

– Đằng sau đám cưới không có gì: Kim Lân xây dựng tình huống truyện và những chi tiết mang sức ám ảnh đến lay động lòng người. Sự tuềnh toàng và thảm hại trong cái đám cưới đã phản ánh được chân dung cảnh nghèo túng đến thảm thương của người dân trước năm 1945, họ phải giành giật, đấu tranh hằng ngày với cái đói, cái chết.

– Ngược lại với cái đói, cái nghèo, con người trong Vợ Nhặt lại ấm áp, giàu tình yêu thương và khát khao sống. Bữa ăn không đủ no nhưng mọi người ăn với thái độ vui vẻ. Đến lúc nồi cháo cám xuất hiện dù miếng cám chát xít nghẹn ứ cổ nhưng cô con dâu vẫn chấp nhận vì cô thông cảm, thấu hiểu cho cảnh ngộ éo le của cơn đói. Bà cụ Tứ hiện lên trong bữa ăn như một ngọn lửa cố gắng đem ánh sáng của mình thắp niềm tin cho hai con. Bà kể toàn những chuyện vui, ở cái tuổi xế chiều bà vẫn lạc quan, tin tưởng vào chân lí của ông bà “không ai nghèo ba họ, không ai khó ba đời”. Bà truyền cho các con mình chút an ủi, chút hi vọng cho cuộc sống quá tối tăm. Chi tiết nồi chè khoán “ngon đáo để” là chi tiết xúc động về tình mẫu tử về tấm lòng nhân hậu của người mẹ nghèo.

– Trong tất cả những thứ không có thì Kim Lân đã khẳng định điều thiêng liêng tồn tại trong truyện, đó chính là tình người. Tình người giúp Thị tìm được nơi nương tựa, giúp Tràng và bà cụ Tứ thêm hi vọng sống, giúp xóm ngụ cư vui tươi hơn mọi khi và cũng giúp trang văn ấm áp lạ thường.

  1. Một đám ma có tất cả mà lại chẳng có điều gì

– Tóm tắt hoàn cảnh dẫn đến đám tang: Cụ cố Tổ trước đó đã mấy lần suýt chết, mấy lần khiến cho đám con cháu mừng hụt, và lần này cụ chết thật vì có sự tham gia của Xuân đốc tờ.

Ngay nhan đề đoạn trích cũng chứa đựng nghịch lí trào phúng. Thông thường nghĩ đến tang gia người ta nghĩ đến sự đau buồn vì ai lại vui được khi vừa mất đi một người thân, kể cả những người dưng, nghĩa tử là nghĩa tận. Bằng nghệ thuật trào phúng, Vũ Trọng Phụng phản ánh một sự thật mỉa mai: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, hạnh phúc khi cụ cố Tổ chết. Nghệ thuật trào phúng cho phép nhà văn xây dựng một cái ma có tất cả nhưng lại chẳng có gì:

+ Có một đám con cháu đông đúc đang đợi phát tang để tỏ vẻ đau thương đưa người về nơi an nghĩ: cụ cố Hồng thì mơ màng nghĩ đến lúc được mặc áo xô gai, chống gậy, ho khạc, mếu máu để thiên hạ chỉ trỏ “Úi kìa, con giai nhớn đã già thế kia kìa”; vợ chồng ông Văn Minh (cháu nội) thì vui vì cái chúc thư kia đã thực thi và được dịp khoe những bộ trang phục của tiệm may nhà mình; Tuyết – cô cháu gái trên mặt một nét buồn lãng mạn rất đúng mốt nhà có tang nhưng trên người thì mặc bộ ngây thơ cho thiên hạ biết mình còn nửa chữ trinh; cậu Tú Tân được dịp dùng đến những chiếc máy ảnh để trổ tài chụp ảnh; cháu rể người chết là ông Phán mọc sừng thì giả vờ đau khổ để che mắt mọi người về giá trị đôi sừng trên đầu ông…

+ Có đám đông vui lây những niềm vui của gia chủ: hai vị cảnh sát “sung sướng cực điểm” khi đang thất nghiệp mà được mời dẹp trật tự cho đám ma; Xuân thì lấy được lòng tin, uy tín với gia chủ vì nhờ hắn mà cái chết của người đáng chết kia đã thành sự thật; bạn bè cụ cố Hồng thì được dịp khoe đủ thứ huy chương, huy hiệu và ngắm cô Tuyết; trai thanh gái lịch xem đám tang là dịp để bình phẩm, chê bai, cười tình…

+ Có tất cả đầy đủ những lễ nghi cần thiết của một đám ma to, long trọng nhất vùng: đồ tang được thiết kế riêng với những kiểu dáng thời thượng của tiệm may Âu Hóa; đưa tang là đội kèn kết hợp Tây, Tàu, Ta lẫn lộn nghe ai oán mà náo nức, mọi ngươi thi nhau chụp ảnh kỉ niệm như hội chợ; tràn ngập vòng hoa, câu đối, có cả sư trụ trì của chùa…

+ Có tiếng khóc thương đến đau lòng của những đứa con, cháu đặc biệt là ông cháu rể quý hóa khóc hứt hứt để che đậy cái giá trị của chiếc sừng trên đầu mình.

– Đằng sau cái vẻ ngoài long trọng của đám ma là một xã hội thành thị thu nhỏ với đủ hạng người đê hèn, ích kỉ, mưu mô, tham lam, giả dối, hám danh, hám lợi…

– Đám tang có tất cả nhưng những thứ ấy chắc gì khiến người chết gật gù cái đầu vì sự rỗng tuếch trong những tâm hồn thiếu vắng tình người. Một lũ con cháu tham lam, bất hiếu, chỉ đợi thời cơ để giành giật, tranh phần và mong chờ cái chết của cha, ông mình đến bối rối. Một lũ người dự tang bề ngoài đạo mạo mà trong lòng chỉ mong muốn hư danh.

  1. Điểm giống và khác của hai chi tiết nghệ thuật:

– Giống nhau: đều là những chi tiết nghệ thuật đặc sắc được tác giả chọn lọc và xây dựng nên tình huống truyện; đều nói về những sự kiện trọng đại của đời người.

– Khác nhau:

+ Cảnh đám cưới của Vợ Nhặt được Kim Lân xây dựng trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 để ca ngợi, tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn con người, tình người và sức sống, khát vọng hạnh phúc ở người lao động

+ Vũ Trọng Phụng dùng ngòi bút trào phúng để đả kích, châm biếm xã hội thượng lưu mục nát, rỗng tuếch, giả dối mà làm ra vẻ văn minh, đạo đức.

  1. Kết bài:

– Xã hội bao gồm nhiều mảnh ghép nhỏ mà mỗi nhà văn là người phản ánh từng khía cạnh ấy trong cuộc sống. Nếu Kim Lân xây dựng tình huống đám cưới chẳng có gì để khẳng định phẩm chất con người lao động ở nông thôn thì Vũ Trọng Phụng lại đặt nhân vật mình trong tấn hài kịch cười ra nước mắt để chế giễu sự thối nát của tầng lớp thượng lưu thành thị trước CM tháng tám.

 

Dạng đề 3

Đọc “Hạnh phúc một tang gia” (Số đỏ – Vũ Trọng Phụng) và “Đám tang lão Gôriô” (Lão Gôriô – Bazắc) anh chị có suy nghĩ gì không? Hãy phân tích hai đoạn trích để nói cảm nhận của mình.

Hướng dẫn làm bài

Ô. Banzắc là một nhà văn lớn của nước Pháp ở thế kỉ XIX, Vũ Trọng Phụng là nhà văn lớn của Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX. Hai nhà văn, hai cuộc đời, hai hoàn cảnh sống nhưng lại có điểm giống nhau về bản chất của xã hội tư bản.

Đọc Lão Gôriô của Ô. Banzắc chắc chắn không ai quên những trang viết sắc lạnh đến tàn nhẫn của nhà văn khi miêu tả đám tang lão Gôriô. Cũng như vậy, ta gặp lại cảnh đám tang trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng qua tiếng cười hoạt kê, châm biếm sâu sắc bản chất của xã hội tư sản Việt Nam những năm đầu thế kỉ này.

Lão Gôriô là một tư sản giàu có một thời. Ông chủ hãng buôn bán lúa mì ấy đã một thời khiến nhiều người mơ ước. Vậy mà đến khi khánh kiệt vì gia tài bị con gái bòn rút, lão phải ra ở quán trọ của bà Vôke. Cái chết của lão trong quán trọ không khiến cho một ai trong gia đình lão phải bận tâm. Lão còn gì để người ta phải để ý? Lão chết trong cô đơn, nghèo khó. Nếu không có sự quan tâm của Ráxtinhắc thì không hiểu ai sẽ chôn cái xác đau khổ ấy. Cảnh chuẩn bị cho đám tang hết sức sơ sài. Ráxtinhắc làm công việc cuối cùng với người chết bằng lòng thương của kẻ khó với kẻ khó. Anh đặt lên ngực lão Gôriô hình ảnh ngây thơ trong trắng “và không biết lí sự” của hai cô con gái ngày xưa. Kỉ vật thiêng liêng ấy được đặt nơi trái tim lão như muốn an ủi người đã khuất bằng hình ảnh đẹp, giả dối về hai đứa con.

Nghĩa tử là nghĩa tận. Có lẽ Ráxtinhắc nghĩ vậy mà cố làm nốt công việc này để coi đó như một cử chỉ an ủi người quá cố. Nó an ủi ông cụ, nhưng khách quan lại đối lập với hiện tại. Cả hai người con gái đã từng được bố yêu chiều hết mức đều tìm cớ vắng mặt ngay trong phút cuối cùng của đời lão. Nó khiến cho ta nghĩ đến nhiều điều trái ngược và cả sự pha trộn phức tạp quá khứ và hiện tại, chân thật và giả dối, ước mơ và thất vọng… Phải chăng từ sâu thẳm lòng mình lão Gôriô chết vì đau đớn nhận ra chân tướng của các con gái. Xót xa, chua chát hơn là những cử chỉ thân thiết, cảm thông của những con người không phải là ruột thịt, nghèo hèn mà thương người, giàu tình nghĩa. Người ngoài mà còn nhận xét về lão Gôriô: “Ông cụ là người tử tế và đứng đắn, chưa bao giờ to tiếng, không hề làm hại ai và chưa từng làm điều gì nên tội”. Cảnh này lên án sự vô tình, bạc bẽo của hai cô gái vắng mặt: Ông bố già nghèo túng, ốm đau, đơn chiếc chết đi có lẽ đã lầm trút tất cả tình yêu thương và của cải của họ. Ông bố hết của cải dường như không còn cần thiết, do đó không còn quan hệ gì với hai người con gái lấy chồng quý tộc.

Lễ cầu kinh dẫn ra trong một giáo đường nhỏ, thấp. Con người dự lễ thì thiếu vắng. Chỉ có Raxtinhắc và Crittôphơ. Lão Gôriô nằm trong sự âm thầm, cô quạnh, như lặng đi trong niềm xúc động nén chặt. Lễ cầu kinh diễn ra đúng nghi thức với những đại diện của tôn giáo và nhà thờ, với các lớp bài bản quen thuộc của tôn giáo trong đám tang. Nhà văn chỉ dùng vài dòng miêu tả ngắn. Lễ cầu hồn không thêm một lời nói, một động tác, một giây phút thừa. Không có cả một không khí bi thương, tang tóc, thường thấy trước một linh hồn vừa được siêu thoát. Tất cả dường như đều vội vã, qua quýt, lấy lệ, cho thật xứng đáng với số tiền ít ỏi mà nhà đám đã bỏ ra, cho đúng với tính chất bố thí (làm phúc). Đúng là tiền “nào của ấy”, thật sòng phẳng, đúng luật, chẳng còn phàn nàn gì được. Duy chỉ thiếu tình người ở những trong “người nhà đạo” đang là nơi gửi gắm niềm tin cậy ở phần lớn các con chiên.

Đám tang không có người dự. Ta có thể hình dung một đám tang mà chỉ có độc nhất một chiếc xe tang, theo sau là xe của linh mục cho phép thêm cả Ráxtinhắc và Crittôphơ, một sự trống vắng đến thê thảm.

Hai chiếc xe đến sau, mang cùng một cung cách hai ông con rể. Chi tiết ấy khác nào một nét vẽ nghịch mắt. Một nét giễu cợt. Hai chiếc xe bất ngờ, treo huy hiệu quý tộc, chúng cố ý tách riêng ra để nêu cao vẻ sang trọng, kênh kiệu, để khỏi bị hòa lẫn trong đám tang. Chúng miễn cưỡng phải có mặt theo nghĩa vụ, hay xấu hổ vì phải nhận kết thân với một người quá nghèo hèn? Hiện tượng không có người ngồi trên hai chiếc xe đưa tang cũng có thể nói lên ý nghĩa của một cái chết. Cả cái xã hội hào nhoáng kia chỉ là cái xác mà chẳng có hồn. Đó cũng là một thứ vật chất giá lạnh không tình người.

Đến nghĩa trang, màn kịch bước vào giai đoạn chót. Đám người đưa tang chỉ vì nghĩa vụ, mệnh lệnh, chỉ chờ dịp “biến” càng nhanh, càng tốt. Không một tiếng khóc than. Không một vẻ sầu bi. Không một nắm đất đưa tiễn. Ông cụ nằm đấy đất chưa phủ lên người đã bị bọn phu đào huyệt đòi trả công. Tất cả, chẳng có gì đáng trân trọng, chẳng có gì đáng quyến luyến, chẳng có gì đáng bận tâm trong cái nhá nhem, chạng vạng của một ngày tàn – đã quá sáu giờ chiều. Chỉ còn có hơi tiền lạnh lẽo và sự vô tình cũng lạnh lẽo không kém ở xứ sở của cái chết – nghĩa địa.

Dưới ngòi bút của Banzắc cả xã hội ấy chỉ vì tiền. Đồng tiền được tôn thờ, lối sống vì tiền đã ăn sâu vào đến tận những ngõ ngách thầm kín dễ rung động nhất, dễ được bao dung nhất. Nó tàn phá tan hoang tất cả những gì đẹp đẽ.

Có những trái tim trong trắng, chưa từng trải cũng bị đồng tiền làm thui chột đi. Raxtinhắc nhỏ những giọt nước mắt cuối cùng cho một con người “tử tế và đứng đắn”, “không hề làm hại ai và chưa từng làm điều gì nên tội”. Những giọt nước mắt của anh bao trùm cả trời đất như muốn khóc cho thói đời bạc bẽo, khóc cho cả xã hội tư sản vô tình đến tàn nhẫn. Nhưng sự phá hoại của đồng tiền thật là ghê gớm. Nó làm cho con người có lương tri còn sót lại cũng bị biến chất. Ban đầu anh căm ghét, khinh bỉ đồng tiền để rồi sau đó thấy nó và cuộc sống của nó cũng “lấp lánh ánh đèn… rào rào” như cái tổ ong mật đáng thèm khát. Anh muốn lại gần muốn thử thách với nó.

Banzắc đã lên án nó một cách mạnh mẽ. Ông kết tội cả xã hội bạc tình bạc nghĩa, phủ nhận nó trong khi vạch ra sức mạnh ghê gớm và sức hút khó cưỡng lại của nó như những qui luật khắc nghiệt của xã hội tư sản. Đó cũng chính là chỗ tiến bộ của Banzắc – bậc thành chủ nghĩa hiện thực, đồng thời cũng là hạn chế của nhà văn.

Nếu Banzắc sử dụng một bút pháp sắc lạnh để phê phán thì trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng lại dùng bút pháp hoạt kê để miêu tả. Chẳng có đám tang nào đem lại hạnh phúc cho một gia đình. Vậy mà ở chương Hạnh phúc của một tang gia người đọc lại cảm nhận được tất cả niềm vui sướng, hạnh phúc của một gia đình, một xã hội trước đám tang của cụ cố tổ. Mỗi thành viên từ trong gia đình đến ngoài xã đều tìm niềm hạnh phúc theo cách riêng của mình.

Cuộc họp bàn giữa các thành viên chủ chốt của gia đình là cuộc họp bàn vô cùng quan trọng khi ông cụ “nằm xuống”. Bên ngoài nhìn vào ai cũng tưởng là cuộc họp quan trọng bàn về việc “báo hiếu”, bởi lẽ họ bàn căng thẳng, cụ cố Hồng và cụ bà đã cãi nhau rất lâu, ông Văn Minh thì “đăm đăm, chiêu chiêu”. Thực chất họ không bàn chuyện tổ chức đám tang mà lại bàn chuyện lo đám cưới cho cô Tuyết. Thế là từ chuyện “báo hiếu” sang chuyện “báo hỉ”, từ chuyện khóc sang chuyện cười.

Cụ cố Hồng – con trai trưởng – trước cái chết của ông bố đáng kính thì mơ màng, tưởng tượng lúc mặc xô gai, được ho khạc, khóc mếu, trước sự trầm trồ thán phục của thiên hạ “Úi… con giai nhớn đã già đến thế kia à?”. Ông cháu đích tôn Văn Minh thì đăm chiêu vì tìm cách trả ơn Xuân, và lo chia gia tài theo chúc thư. Ông Phán mọc sừng sung sướng vì cái sừng vô hình trên đầu lại có giá trị vài nghìn bạc. Cô Tuyết mong ông chết để được mặc bộ “ngây thơ”. Tú Tân sung sướng vì được chụp ảnh. Tiệm may Âu hóa thì hạnh phúc vì sẽ thu được nhiều tiền khi đưa ra thị trường những “đặc sản” nhà mình là các kiểu quần áo tang. Cái chết của cụ cố tổ là niềm hạnh phúc lớn lao, niềm hạnh phúc không nén nổi, cứ tràn ra. Nó chẳng làm cho ai sầu não, tiếc thương mà trái lại đã làm cho nhiều người “sung sướng” lắm, “thỏa thích” lắm để “tưng bừng, vui vẻ” đi đưa cáo phó, gọi phường kèn, thuê ke đám ma… Thành ra “tang gia ai cũng vui vẻ cả”. Đó là không khí của ngày chuẩn bị hội hè vui vẻ.

Mâu thuẫn giữa cái thật và cái giả, giữa cái bên ngoài và cái thực chất bên trong cứ được nhà văn miêu tả qua nghệ thuật trào phúng xuyên suốt cảnh đám ma. Khác với đám tang của lão Gôriô, đám tang này rất trọng thể, đúng là “một đám ma gương mẫu” nhưng kì thực lại giống như một đám hội, đám rước.

Nếu đám tang lão Gôriô là đám tang của kẻ khó thì đám tang này lại phô bày sự sang trọng, thừa thãi của tất cả mọi thứ. Từ cái trịnh trọng cần có đến cái hổ lốn, hỗn độn không nên có. Một đám ma “to tát”, “long trọng”, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng. Vài trăm câu đối vòng hoa, vài trăm người đi đưa, máy ảnh chụp lia lịa như ở hội chợ… kèn đám ma thì đầy đủ cả ta, Tàu, Tây… (Ta nhớ đến lễ cầu hồn của lão Gôriô chỉ là hai mươi xu). Đám ma to tát đến nỗi người thật thà nhất trong gia đình này là cụ bà mà cũng cảm thấy “hết sức sung sướng”. Người hàng phố thì “nhốn nháo cả lên khen đám ma to”. Đám to đến nỗi “có thể làm cho người nằm trong quan tài nếu không mỉm cười sung sướng thì cũng gật gù cái đầu”.

Kì thực, những cái “to tát”, “long trọng”, “danh giá” của cái “đám ma gương mẫu” ấy chỉ là sự phô trương giả dối, lộ liễu, hợm người, hợm của lố lăng, vô văn hóa. Cảnh ấy cho thấy ở xã hội ấy người ta quen và rất thích, rất bằng lòng với sự lừa dối mọi người, lừa dối chính mình bằng những trò lòe loẹt, om sòm.

Nhà văn muốn đưa lên cận cảnh một vài nhóm nhân vật ngoài xã hội cùng chung hưởng niềm hạnh phúc ấy. Đó là sự hí hửng, mẫn cán của hai viên cảnh sát Minđơ, Mintoa được thuê giữ trật tự cho đám ma. Đó là những quan khách đến viếng đám ma để có dịp khoe các loại huân chương và các kiểu râu ria.

Đáng mỉa mai là họ làm tất cả những việc ấy bằng vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa đám. Những mẩu đối thoại mà họ nói với nhau khi tác giả có ý ghi lại đã nói lên rằng: Những kẻ đi đưa ma hoàn toàn dửng dưng với người chết. Bởi họ đều thản nhiên vui vẻ, để soi mói, ngắm nghía, bình phẩm nhau với những chuyện đồi bại thường ngày.

Đám tang của lão Gôriô tẻ nhạt, thiếu vắng, nghèo khổ nhưng ít nhất còn được một người dưng nhỏ vài giọt nước mắt xót thương, còn được lời nhận xét chân thành cuối cùng bằng sự cảm thông trân trọng, ở đây đám tang này được cả xã hội chú ý, quan tâm, tốn tiền, hao của, thừa thãi mọi thứ. Vậy mà trong sự to tát, trọng thể ấy vẫn thiếu một thứ quan trọng nhất là lòng thương tiếc, sự đau buồn chân thành với người đã khuất. Thiếu một chút ấy thôi thì tất cả đều trở nên vô nghĩa và giả dối. Hàng trăm người đi đưa, cảnh con cháu khóc tưởng ngất đi, cảnh chụp ảnh có dàn dựng như sân khấu kia, cảnh kèn ta, tàu, tây với bao thứ nghi thức cồng kềnh kia liệu có khiến cho người chết “mỉm cười sung sướng” khi nhận ra vẻ dửng dưng, sung sướng của những người đưa đám mình không?

Những người đưa đám lão Gôriô đều cố gắng đi cho thật nhanh, về cho thật nhanh còn ở đây đám tang cụ cố cứ từ từ chuyển động một cách nghiêm trang khi thực đây đâu phải là đám ma thật mà chỉ là đám hội đám rước vui vẻ như một trò hề hấp dẫn. Kết thúc đám tang của lão Gôriô là cái nhìn của Raxtinhắc về nguồn ánh sáng hấp dẫn của xã hội thượng lưu mà anh đang chuẩn bị lao vào. Màn cuối cùng của đám tang cụ cố tổ là ông cháu rể quý hóa khóc rống lên, la oặt người đi trong khi tranh thủ thanh toán một món tiền với Xuân… Cảnh này là đỉnh cao của sự trào phúng trong màn kịch một đám ma gương mẫu” vì sự giả dối bịp bợm đã lên tới độ vô liêm sỉ đến ghê tởm.

Hai cảnh đám ma diễn ra với hai con người cùng thuộc giai cấp tư sản nhưng lại đối lập nhau. Sự đối lập về hình thức tổ chức đám tang nhưng lại thống nhất ở bản chất của nó. Banzắc và Vũ Trọng Phụng đã cùng gặp nhau ở một điểm. Đó là sự thống nhất ở cách nhìn nhận và đánh giá giai cấp tư sản và cả xã hội của những kẻ thượng lưu danh giá. Banzắc cố tình miêu tả sự giá lạnh về mọi thứ tình cảm trong xã hội ấy vì sự chi phối của đồng tiền. Mọi sự thật giả đều được phơi bày qua giọng văn lạnh lùng, phũ phàng đến tàn nhẫn.

Ngược lại Vũ Trọng Phụng lại thể hiện bút pháp đối lập sâu sắc qua nghệ thuật châm biếm cái thật giả. Mọi sự ồn ào, huyên náo của đám tang, mọi sự “tưng bừng”, nhộn nhịp của xã hội ấy cũng nhằm mục đích che đậy cái bản chất lạnh lùng đến vô tình vì đồng tiền. Cảnh đám ma trong xã hội tư sản giả dối, bịp bợm. Con cháu lão Gôriô vô tình với lão vì chúng đã bòn rút hết tiền của lão. Con cháu cụ tổ làm đám ma linh đình như thế cũng chỉ nhằm mục đích chia tiền của cụ, để rồi khi đã chia xong rồi thì cụ cũng lại rơi vào quên lãng như lão Gôriô. Đó là điều mà Vũ Trọng Phụng đã gặp Banzắc ở cùng luồng tư tưởng: Hai cái chết là liều thuốc thử nghiệm với cả xã hội tư sản.

Xưa nay văn học thế giới viết về cảnh tang ma không hiếm. Nhưng lại như một sự vô tình những người biên soạn sách giáo khoa Văn học lớp 11 lại chọn cảnh hai đám ma này trong chương trình giảng dạy. Sự so sánh hai cảnh này có vẻ như khập kiễng nhưng ít nhất cũng đem lại cho người đọc một nhận thức mới về nội dung: Văn học phản ánh hiện thực bằng nghệ thuật điển hình hóa.