Oracle là gì? Tại sao Oracle lại quan trọng?

Cùng Camnang24h đi tìm hiểu xem ” Blockchain Oracle là gì? Tại sao Oracle lại quan trọng? Những giao thức Oracle phổ biến nhất” qua bài viết dưới đây. Tài chính phi tập trung (DeFi) là một xu hướng mới với hy vọng thay thế hầu hết các chức năng của hệ thống tài chính truyền thống bằng các hợp đồng thông minh. Tuy nhiên các hợp đồng thông minh tốt nhất vẫn yêu cầu sử dụng bên thứ ba đáng tin cậy dưới hình thức một Oracle.

Blockchain Oracle là gì?

Oracle trong lĩnh vực Blockchain được hiểu là nguồn cấp dữ liệu, cho phép các dịch vụ của bên thứ ba cung cấp cho các hợp đồng thông minh những thông tin bên ngoài thế giới thực vào trong thế giới blockchain.

Ví dụ: Nếu hai bên đang đặt cược vào trò chơi bóng rổ thông qua hợp đồng thông minh trên blockchain, thì bên thứ ba là Oracle sẽ cho phép hợp đồng thông minh biết kết quả trận đấu bằng cách xuất bản dữ liệu liên quan lên blockchain. Quá trình này thường được tự động hóa bằng phần mềm. Một bot có thể quét NBA.com để biết điểm số của các trận đấu và tự động xuất bản chúng lên blockchain. Nhưng cho dù đó là một người hay phần mềm, nó vẫn tồn tại bên ngoài blockchain.

Xem thêm: Phương pháp tự học ngành khoa học máy tính từ trường đại học

Oracle là gì?

Tại sao Blockchain Oracle lại quan trọng?

Các blockchain và hợp đồng thông minh không thể truy cập dữ liệu bên ngoài blockchain. Tuy nhiên, một số thỏa thuận hợp đồng yêu cầu phải có thông tin liên quan từ thế giới bên ngoài để thực thi các thỏa thuận đó.

Đây là lúc cần đến các oracle, vì chúng cung cấp một liên kết giữa dữ liệu bên ngoài và bên trong blockchain. Các oracle có vai trò thiết yếu trong hệ sinh thái blockchain vì chúng mở rộng phạm vi hoạt động của các hợp đồng thông minh. Nếu không có các oracle của blockchain, các hợp đồng thông minh sẽ có sử dụng hạn chế vì chúng chỉ có quyền truy cập vào dữ liệu từ trong mạng của chúng.

Điều quan trọng cần lưu ý là bản thân các oracle trên blockchain không phải là nguồn dữ liệu, mà là một lớp để truy vấn, xác minh và xác thực các nguồn dữ liệu bên ngoài, sau đó chuyển tiếp thông tin đi. Dữ liệu mà các oracle truyền đi dưới nhiều dạng – thông tin giá cả, việc thanh toán được hoàn thành hoặc nhiệt độ được đo bằng cảm biến.

Để gọi dữ liệu từ các nguồn bên ngoài, hợp đồng thông minh phải được dẫn ra và các tài nguyên mạng phải được sử dụng. Một số oracle ngoài khả năng chuyển thông tin đến các hợp đồng thông minh còn có thể gửi lại cho các nguồn bên ngoài.

Phân loại Blockchain Oracle

Có thể phân loại các oracle tùy thuộc vào các tính chất của chúng:

  • Nguồn – dữ liệu có nguồn gốc từ phần mềm hay phần cứng?
  • Hướng của thông tin – thông tin đến hay thông tin đi?
  • Độ tin cậy – dữ liệu là tập trung hay phi tập trung?

Một oracle có thể thuộc vào nhiều phân loại. Ví dụ, một oracle lấy thông tin từ trang web của công ty là oracle phần mềm phi tập trung lấy thông tin từ bên trong.

Nguồn dữ liệu

Các Oracle phần cứng (Hardware Oracle) thì thu thập dữ liệu trực tiếp từ những nguồn vật lý. Sau đó, những dữ liệu này được chuyển thành các giá trị kỹ thuật số có thể được chuyển tiếp vào các hợp đồng thông minh. Các nguồn vật lý này, bao gồm máy quét mã vạch và cảm biến điện tử, sẽ thu thập dữ liệu một cách chủ động hoặc thụ động và cung cấp nó cho các hợp đồng thông minh.

Trong khi đó, các Oracle phần mềm (Software Oracle) lại thu thập thông tin từ các cơ sở dữ liệu trực tuyến, các máy chủ, trang web. Vì vậy những thông tin mà các hợp đồng thông minh nhận được thường rất cập nhật. Thông thường, đối với các Blockchain, những thông tin này thường đến từ các sàn giao dịch tiền điện tử.

Hướng thông tin

Các Oracle đi vào (Inbound oracle) sẽ đảm nhiệm việc gửi các thông tin từ các nguồn bên ngoài đến các hợp đồng thông minh. Trong khi đó, các Oracle đi ra (Outbound oracle) sẽ gửi thông tin từ các hợp đồng thông minh ra thế giới bên ngoài.

Một ví dụ phổ biến là chuyển tiền. Khi người dùng gửi tiền vào địa chỉ ví tiền điện tử, nhà cung cấp ví sẽ nhận được thông báo xác nhận khoản tiền gửi đến từ các hợp đồng thông minh. Sau đó, nhà cung cấp ví sẽ cập nhật số dư tiền điện tử cho người dùng.

Mức độ tin cậy

Các Oracle tập trung (Centralized Oracle) hoạt động như một nhà cung cấp dữ liệu duy nhất từ nguồn bên ngoài cho một hợp đồng thông minh hoạt động với tất cả các tính năng bảo mật. Tuy nhiên, điều này làm dấy lên lo ngại về việc có một điểm lỗi duy nhất. Đây cũng là vấn đề mà hệ thống tài chính truyền thống gặp phải. Việc chỉ sử dụng một nguồn thông tin có thể khiến Oracle trở nên rủi ro hơn. Thậm chí nó còn dễ bị hỏng cũng như dễ bị tấn công bởi những dữ liệu độc hại. Và hợp đồng thông minh sẽ phải chịu tác động trực tiếp từ những vấn đề này.

Mặt khác, các Oracle phi tập trung (Decentralized Oracle) dựa trên nhiều nguồn bên ngoài. Điều này sẽ làm tăng độ tin cậy của những nguồn dữ liệu được cung cấp. Hợp đồng thông minh truy vấn nhiều Oracle để xác định tính hợp lệ và chính xác của dữ liệu. Đây chính là lý do tại sao các Oracle phi tập trung cũng có thể được gọi là các Oracle đồng thuận.

Vấn đề với Oracle

Các mạng như Ethereum không thể nào lấy thông tin từ thế giới bên ngoài. Ví dụ, không có cách nào để mạng Ethereum biết tỷ giá ETH/USD hiện tại là bao nhiêu, hay người đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ nếu không được cung cấp dữ liệu từ bên ngoài blockchain.

Thực tế này được gọi là vấn đề Oracle. Thật vậy, vấn đề này vẫn tồn tại (ở các mức độ khác nhau) trong tất cả các ứng dụng DeFi đã ra mắt cho đến thời điểm này.

Thông thường, dữ liệu do Oracle cung cấp thường được đưa trực tiếp vào các hợp đồng thông minh. Và hợp đồng thông minh hoạt động chủ yếu dựa trên dữ liệu này. Vì vậy, rõ ràng là Oracle có “quyền hạn to lớn” trong quá trình hoạt động của các hợp đồng thông minh. Nếu Oracle gây hại hoặc không đủ năng lực, có nghĩa là việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thông minh có thể đi sai hướng.

Ví dụ, nếu Oracle bị hack, hacker sẽ kiểm soát kết quả, thay vì thực thể đằng sau Oracle. Hoặc nếu hai bên đặt cược vào một sự kiện thể thao, người thua cuộc có thể chỉ cần mua chuộc Oracle để báo cáo sai người chiến thắng, điều này sẽ dẫn đến hợp đồng thông minh gửi tiền cho người đặt cược thua cuộc. Vì bản thân blockchain không có cách nào xác minh tính xác thực của dữ liệu on-chain được cung cấp cho nó bởi Oracle, loại lừa đảo này là có thể xảy ra. Và người chiến thắng chắc chắn sẽ phản đối, trong khi các giao dịch blockchain là không thể đảo ngược.

Khả năng tương tác của một mạng blockchain (Blockchain Interoperability) là gì ?

Định nghĩa: Là khả năng chia sẻ thông tin giữa các mạng blockchain khác nhau

Đã 10 năm kể từ khi mạng Bitcoin-mạng blockchain đầu tiên hoạt động. Hiện tại, công nghệ đã tiếp cận người dùng phổ thông và một số lượng lớn các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ bắt đầu đánh giá lợi ích của việc sử dụng blockchain trong các lĩnh vực – từ nông nghiệp, bất động sản đến chăm sóc sức khỏe và bỏ phiếu.

Mỗi năm có hàng chục dự án mới ra đời, cạnh tranh với nhau với một mục đích vô ích là phát triển blockchain “tốt nhất”. Thông thường, họ sẽ phát ngôn rằng sản phẩm của họ đã sẵn sàng chạy phục vụ cho người dùng, sản phẩm của họ an toàn, có thể mở rộng và nhanh hơn các đối thủ khác. Chúng ta không biết các tuyên bố của họ có đúng hay không, nhưng các dự án đó là một mạng blockchain độc lập, không có tính tương tác (lời người dịch: tương tác với các mạng blockchain khác). Xu hướng này kéo theo hàng loạt các hệ sinh thái khác nhau, hàm băm, mô hình đồng thuận và cộng đồng người dùng của riêng họ. Kết quả là, không gian blockchain ngày càng trở nên tồi tệ và khái niệm cốt lõi của nó – ý tưởng về mạng phân tán – không thực sự đúng như ban đầu.

Hiện tại, một mạng blockchain bất kỳ không hề có “nhận thức” về thông tin có thể tồn tại trong một mạng blockchain khác. Ví dụ: mạng Bitcoin tồn tại hoàn toàn độc lập với mạng Ethereum – theo nghĩa là nó không biết về bất kỳ thông tin nào được ghi lại ở đó – và ngược lại. Các dự án hoàn toàn phát triển dựa trên các mạng blockchain tách biệt với nhau, mặc dù tồn tại trong cùng một ngành và hoạt động với cùng một công nghệ.

Công ty phát triển lấy Ethereum làm trung tâm, ConsenSys đã mô tả hiện tượng này là “sự lây nhiễm” của ngành công nghiệp tiền điện tử, vì nó liên quan đến “một loạt các hệ thống không được kết nối hoạt động song song với nhau – khi đối mặt với cạnh tranh và áp lực thương mại.” Quay lại định nghĩa về khả năng tương tác của mạng blockchain là khả năng trao đổi dữ liệu giữa các mạng blockchain khác nhau một cách liền mạch, như thể không có ranh giới.

Tại sao khả năng tương tác của mạng blockchain lại quan trọng ?

Vì: Để có thể áp dụng công nghệ blockchain rộng rãi và để blockchain phát triển hơn nữa.

Bởi vì không gian tiền điện tử đã trở nên cạnh tranh cao, một số dự án có xu hướng nỗ lực rất nhiều để các giao dịch trong mạng của họ nhanh hơn của đối thủ thay vì tập trung vào cơ sở hạ tầng chung. Cuộc đua về khả năng mở rộng (scalability) là một ví dụ. Mạng Bitcoin chỉ có thể xử lý 7 giao dịch mỗi giây (TPS) – các dự án blockchain mới bây giờ có thể đạt tới 40000 TPS .

Số giao dịch chịu tải của Visa là khoảng 24000 TPS (chịu được 24 nghìn giao dịch một giây), mặc dù thực tế tải trung bình chỉ là 1700 giao dịch mỗi giây. Bất kỳ blockchain nào, ngay cả với Bitcoin, còn lâu mới đánh bại được Visa về mức độ số lượng giao dịch/giây này – do đó, 40000 TPS có thể được coi là một chút gì đó “hơi quá”.

Không công ty nào muốn xử lý các khoản thanh toán của mình bằng blockchain, bất kể khả năng mở rộng như thế nào, nếu cơ sở hạ tầng tổng thể không tương thích và an toàn. Mặc dù thông số giao dịch/giây của các mạng blockchain có thể tốt hơn Visa, nhưng nó sẽ không được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới như Visa nếu nó vẫn bị cô lập. Trong khi đó, các thẻ tín dụng (ví dụ: Visa, MasterCard , American Express, v.v.) có thể tương tác giữa các đơn vị chấp nhận thẻ và ATM trên toàn thế giới.

Tương tự, internet cho phép truy cập và sửa đổi nhiều bộ dữ liệu thông qua các API. Nếu nó không có khả năng tương tác, nó sẽ không thể phát triển thành như ngày nay – một mạng internet thực sự toàn cầu và dễ sử dụng. Điều tương tự cũng áp dụng cho các blockchain. Các mạng blockchain cần phải chứng tỏ rằng chúng có thể làm việc với nhau một cách liền mạch.

Nguồn dữ liệu của mạng Chainlink

Ví dụ về lý do tại sao khả năng tương tác của mạng blockchain lại quan trọng ?

Ví dụ: Chăm sóc sức khỏe và hồ sơ bệnh án.

Hãy tưởng tượng một thế giới nơi blockchain thực sự được áp dụng hàng loạt. Mọi công ty đều sử dụng blockchain để lưu trữ dữ liệu. Bây giờ, tình huống sau xảy ra: Một người cần nhập viện và trong khi họ đang được vận chuyển trên xe cấp cứu, bệnh viện yêu cầu hồ sơ y tế của họ từ phòng khám nơi người này đăng ký để đưa ra phương pháp điều trị tốt nhất.

Tuy nhiên, hóa ra phòng khám sử dụng một blockchain khác và mạng này không tương thích với mạng blockchain của bệnh viện. Do đó, bệnh viện không thể truy cập vào hồ sơ của bệnh nhân. Trong khi đó, đồng hồ đang tích tắc và từng giây bây giờ đều rất quan trọng.

Rất may, điều này sẽ không bao giờ xảy ra: Không bệnh viện nào lại chọn một blockchain nếu nó là một blockchain bị cô lập. Điều này cũng áp dụng cho các ngành khác như bất động sản, kiểm toán, hậu cần, v.v. Không thể áp dụng hàng loạt nếu không có khả năng tương tác giữa các mạng blockchain khác nhau.

Làm thế nào để các mạng blockchain có thể tương tác được với nhau?

Có các phương pháp khác nhau: cross-chain, sidechains, proxy token, swap, v.v.

Việc kết nối các blockchains hiện tại với nhau không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Theo nghiên cứu của ConsenSys về chủ đề này, “thương mại hóa thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới, khuyến khích các nhà phát triển và doanh nhân xây dựng các hệ thống hoạt động tốt nhất cho khách hàng của họ.” Do đó, khả năng tương tác mã nguồn mở bị bỏ qua và hầu hết các blockchain không có tính năng tích hợp nào hỗ trợ nó.

Tuy nhiên, một số dự án blockchain đã tập trung vào khả năng tương tác, sử dụng các cách tiếp cận khác nhau. Dưới đây là một số ví dụ:

Polkadot

Polkadot sử dụng công nghệ cross-chain. Về cơ bản, nó cho phép các blockchain khác nhau kết nối vào một hệ sinh thái lớn hơn, được tiêu chuẩn hóa. Nó được thành lập bởi Gavin Wood, người đồng sáng lập Ethereum.

Về mặt kỹ thuật, Polkadot bao gồm các parachains (tức là các blockchains song song xử lý các giao dịch và chuyển chúng sang blockchain ban đầu), một chain trung chuyển (tức là một thành phần trung tâm kết nối các parachains và đảm bảo tính bảo mật của chúng) và các cầu nối Polkadot với các blockchains bên ngoài .

Cosmos

Cosmos cũng tuân theo nguyên tắc cross-chain. Cụ thể, nó sử dụng một giao thức truyền thông liên blockchain (inter-blockchain communication IBC) để thiết lập khả năng tương tác của blockchain. Nó đóng vai trò như một giao thức truyền tin giống TCP/IP cho các blockchains. Vì các blockchain được thành lập khác nhau (như Bitcoin) không hỗ trợ IBC theo thiết kế, nên Cosmos sử dụng cái gọi là “vùng chốt” (peg zones) để kết nối chúng với “Cosmos Hub” – một blockchain “đầu tàu” liên kết tất cả các khu vực với nhau và điều phối thông tin liên lạc giữa chúng thông qua các ngôn ngữ chuẩn hóa.

Tuy nhiên, Cosmos-Hub là một phần của hệ sinh thái liên blockchain lớn hơn do Cosmos phát triển có thể chứa các thực thể khác – ví dụ, Iris-Hub, tập trung vào khách hàng doanh nghiệp và khách hàng Trung Quốc.

Chainlink

Chainlink là một mạng oracle phi tập trung. Nó cho phép dữ liệu được truy xuất từ các API ngoài mạng blockchain và được đưa vào blockchain. Nói cách khác, Chainlink đóng vai trò là cầu nối giữa các blockchains và tất cả cơ sở hạ tầng tồn tại ngoài mạng blockchain: các node Oracle nhận dữ liệu trong mạng thực, xử lý thông tin và đưa nó vào blockchain. Chainlink giống như SWIFT, một công ty hợp tác với hệ thống thanh toán và chuyển dữ liệu liên ngân hàng toàn cầu, được hầu hết các ngân hàng trên thế giới sử dụng.

Wanchain

Wanchain sử dụng một giao thức khác để tạo điều kiện chuyển dữ liệu giữa các mạng blockchain không được kết nối. Do đó, thay vì triển khai các vùng chốt hoặc các mạng blockchain tương tự, Wanchain tạo ra cái gọi là token “bọc” (wrapped token) có thể được giao dịch trên các blockchain khác.

Ví dụ: để chuyển 10 ETH sang chuỗi BTC, trước tiên nền tảng sẽ khóa số lượng ETH đó trên mạng Ethereum bằng cách sử dụng các hợp đồng thông minh, sau đó sẽ đúc 10 ETH được bọc Wanchain (WETH) trên Wanchain. Sau đó, những WETH này có thể được giao dịch lấy BTC được bọc bởi Wanchain (WBTC) trên một nền tảng giao dịch. Các WBTC được bóc thành các BTC ban đầu nằm trên mạng Bitcoin.

Quant

Không giống như các ví dụ đã đề cập ở trên, Quant không phải là một blockchain. Nó sử dụng giao thức Overledger, một lớp chạy trên các blockchains hiện có. Overledger bề ngoài cho phép các nhà phát triển tạo “MApps” – ứng dụng phi tập trung ( DApps ) sử dụng nhiều blockchains cùng lúc – chỉ trong “ba dòng code” và không có bất kỳ cơ sở hạ tầng bổ sung nào. Điều đó cho phép có nhiều lựa chọn hơn trong kỹ thuật blockchain. Ví dụ: một MApp có thể dựa vào mạng Ethereum để lưu trữ dữ liệu trong khi sử dụng Bitcoin Cash ( BCH ) để chuyển giá trị.

Hãy nhớ rằng đó không phải là những dự án duy nhất hướng tới việc thiết lập khả năng tương tác của blockchain. Ngoài ra còn có các dự án như Cardano , Aion, Icon, Ark, Bytum, Dragonchain và mạng Ferrum.

Tổng quan data flow mạng Chainlink
Tổng quan data flow mạng Chainlink

Hiện tại, các blockchain có thể tương tác với nhau không

Câu trả lời ngắn gọn là không. Ít nhất là chưa. Các sàn giao dịch tiền điện tử vẫn là một nơi phổ thông đại diện cho khả năng tương tác trong không gian tiền điện tử. Nếu ai đó cần hoán đổi 10 ETH lấy BTC, rất có thể người đó sẽ sử dụng một nền tảng giao dịch tập trung. Hiện nay, nó là phương pháp phổ biến nhất – và là một phương pháp tương đối tiện lợi -. Tuy nhiên, nó có những nhược điểm lớn, bảo mật là yếu tố rõ ràng nhất (“bạn không nắm private key, không phải tiền của bạn” là một câu tục ngữ nổi tiếng mô tả lý do tại sao gửi tài sản của bạn vào ví nóng luôn tiềm ẩn rủi ro).

Do đó, mặc dù một số dự án đã và đang làm việc trên các dự án/giải pháp để tăng tính tương tác giữa các mạng blockchain, các mạng vẫn bị cô lập phần lớn. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là không gian blockchain vẫn còn tương đối mới và hầu hết các công ty khởi nghiệp nói trên đều đang ở giai đoạn đầu trong lộ trình của họ.

Nguồn: Tổng hợp

 

Ads Blocker Image Powered by Code Help Pro

Ads Blocker Detected!!!

We have detected that you are using extensions to block ads. Please support us by disabling these ads blocker.

Powered By
Best Wordpress Adblock Detecting Plugin | CHP Adblock