Văn mẫu 12: Nghị luận văn học bài thơ Sóng chi tiết từng khổ

Văn mẫu 12: Nghị luận văn học bài thơ Sóng chi tiết từng khổ

Sóng đã góp phần tạo nên một mạch chảy thật ngọt ngào và khác biệt trong nền thơ ca kháng chiến hừng hực lửa chiến đấu. Qua bài nghị luận văn học sóng càng khẳng định tài năng và vị thế của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh trong thi đàn hiện đại Việt Nam thế kỉ XX. Camnang24h.net xin gửi đến thầy cô và các bạn bài nghị luận văn học về tác phẩm này.

Xem thêm: 

 1, Sơ lược về thể thơ và hoàn cảnh ra đời

Nhan đề bài thơ đã có ý nghĩa định hướng về một hình tượng xuyên suốt. Song có lẽ cái khác biệt đáng kể nhất ở đây là con sóng của Xuân Quỳnh được nhìn bằng nhãn quan phụ nữ. Và Xuân Quỳnh cũng là người mượn sóng để bộc bạch tình yêu của người phụ nữ thành công nhất: thi sĩ đã tạo hình một con sóng mang tính nữ, mang lại những cảm nhận bài thơ sóng hết sức mãnh liệt cho đông đảo bạn đọc thời kì đó.

Cũng phải lưu ý về thời điểm bài thơ Sóng ra đời. Sóng được in trong tập Hoa dọc chiến hào, năm 1967 – thời điểm cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước diễn ra ác liệt và tình yêu lứa đôi thuần tuý chưa phải là đề tài phổ biến của thơ ca, nhất lại là tiếng nói của một cái tôi cá nhân đích thực, khao khát kiếm tìm bản thể và khẳng định phái tính. Gần như một “bông hoa lạ”, Sóng ngay lập tức có được sức sống tự nhiên trong lòng bạn đọc.

2, Nghị luận văn học sóng: Khổ thơ đầu tiên

Khổ thơ mở đầu rõ ràng không phải chỉ nhằm tạo hình tượng sóng mà hướng tới cắt nghĩa “bản thể sóng”, cũng đồng thời là “bản thể tình yêu”, là dòng nội tâm đầy xáo trộn của kẻ đang yêu :

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ.

Đặc tính của sóng được Xuân Quỳnh khái quát thật giản dị mà cũng thật ấn tượng vì nó chứa đựng những nhận thức bất ngờ. Bản thể sóng hoá ra gồm bao nhiêu đối cực, tưởng mâu thuẫn hoá ra thống nhất, luân chuyển không ngừng để mãi vẫn là mình.

Giữa các đối cực, nhà thơ đặt một liên từ tinh tế: “và”. Những từ ngữ đặt ra ngoài văn cảnh là đối nghĩa, nhưng ở đây, lại là hai mặt của một thực thể, tạo hình con sóng sống động. Nhưng vì là con sóng nữ tính, nên nó không huỷ diệt, không đe doạ. Nó càng không phải con sóng thần, mà là con sóng thơ, sóng yêu, cho nên nó đổ về bản năng người phụ nữ muôn đời

Tự sâu xa, sóng là một bản thể mang khát vọng được người thấu hiểu và thấu hiểu được người:

Sóng không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

3, Nghị luận văn học sóng: Khổ thơ thứ hai và ba

Qua nghị luận 2 khổ thơ đầu bài sóng ta thấy được, với tuổi trẻ, băn khoăn sâu thẳm nhất, dữ dội nhất về bản thể chẳng thể nào nằm ngoài khao khát tình yêu, thứ tình cảm kì lạ khiến mỗi cá nhân tự phá vỡ cái tôi của mình, nhập vào một cái tôi khác để được “là mình” trọn vẹn:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.

Trước đại dương bao la sóng vỗ,người con gái đã suy nghĩ về con sóng, về tình yêu  của mình và câu hỏi về cội nguồn của sóng. “Em nghĩ về biển lớn – từ nơi nào sóng lên” thực chất cũng là câu hỏi về cội nguồn của tình yêu, là nơi tình yêu bắt đầu. Tình yêu bắt đầu từ nơi đâu,từ lúc nào đó là câu hỏi muôn đời của những người khi đến với tình yêu nhưng có ai có thể cắt nghĩa được rõ ràng và đầy đủ

Phân tích hình tượng sóng trong thơ Xuân Quỳnh

Khổ thơ thứ ba

“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?”

Câu hỏi về khởi nguồn con sóng, khởi nguồn của tình yêu không phải là sự băn khoăn nghi ngờ mà đúng hơn là cách để người con gái khẳng định tình yêu của mình.

Sóng và mức mạnh của sóng là nổi bí ẩn muôn đời,đâu có thể dễ dàng cắt nghĩa, làm sao có thể giải đáp được câu hỏi về cội nguồn của tình yêu. Điều mà trước đây nhà thơ Xuân Diệu đã từng băn khoăn “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” thì nay, một lần nữa lại được Xuân Quỳnh giãi bày bộc bạch; tình yêu cũng như sóng biển,như gió trời vậy, làm sao nắm bắt và hiểu được hết.

Thậm chí phân tích, lí giải những qui luật tự nhiên là điều con người có thể làm được như phân tích, lý giải quy luật tâm lí, nhất là tâm lí của người đang yêu thì không dễ dàng chút nào, bởi vậy câu hỏi của Xuân Quỳnh vẫn chỉ là một câu hỏi bỡ ngỡ:

Xuân Quỳnh muốn thông qua một qui luật của tự nhiên để lí giải quy luật của tình yêu. Dù vấn đề ấy đã không ít lần được nói đến nhưng Xuân Quỳnh vẫn có một cách nói,cách lí giải độc đáo của mình. Điều cần lưu ý là câu kết của hai khổ thơ đều là những câu hỏi tu từ; hỏi để mà khẳng định rõ hơn khát vọng tình yêu của mình.

“Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”.

4, Nghị luận văn học sóng: Khổ thơ thứ tư

Cảm xúc thơ làm xuất hiện một quan hệ tương chiếu: em – sóng. Từ khổ thơ thứ năm, em sẽ song hành cùng với sóng, không chỉ song hành vì tương hợp, mà có lúc em và sóng hoà nhập hoàn toàn.

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Có thể nói đây là khổ thơ hay nhất, sống động nhất của bài thơ. Nó là khổ thơ không chỉ của cảm xúc, mà đặc biệt hơn, nó khắc họa một thân thể sóng đang dạt dào hạnh phúc, cồn cào nỗi nhớ nhung và khao khát. Không gian “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước” mất đi tính khái quát, trở nên cụ thể, thân thiết như căn phòng hạnh phúc khi nó dẫn đến một liên tưởng ngẫu hứng đầy hữu lí: con sóng “không ngủ được”.

5, Nghị luận văn học sóng: Khổ thơ thứ năm

Những khổ thơ tiếp theo cho thấy một Xuân Quỳnh “già” hơn, triết lí hơn, thấp thoáng nét lo âu, và nếu xét ở sức tạo hình, gợi hình, ngôn từ thơ không dào dạt như những khổ đầu. Cũng bởi Xuân Quỳnh không chỉ là một phụ nữ hiện đại, mà còn mang đậm bản sắc phụ nữ phương Đông, cho nên nhà thơ luôn quan niệm tình yêu gắn với lòng chung thuỷ:

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương.

Ở đoạn thơ này, Xuân Quỳnh diễn tả nổi nhớ trong tình yêu – nỗi nhớ của con sóng nhưng thực chất cũng là để diễn tả nổi nhớ trong tình yêu. Tình yêu thường gắn liền với những nỗi nhớ, với xa cách. Nỗi nhớ của một trái tim đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật tha thiết,sâu đậm đã bao trùm cả không gian bao la:

“Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam”.

6, Nghị luận văn học sóng: Khổ thơ thứ sáu

Nó lan tỏa cả tầng sâu và bề rộng:

“Con sóng dưới lòng đất
Con sóng trên mặt nước”

Nó khắc khoải trong mọi thời gian cả ngày,cả đêm, thậm chí cả trong mơ. Đó là một nỗi nhớ cồn cào,da diết không thể nào nguôi, không thể nào yên; nó cuồn cuộn, dạt dào như những đợt sóng biển triền miên vô tận:

“Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”

Một nỗi nhớ thường trực mà như ở bài thơ “Con tàu” – Xuân Quỳnh đã tâm sự:

“Nên cả lúc gần anh
Mà lòng em vẫn nhớ”.

Xuân Quỳnh đã rất tinh tế khi diễn tả và nâng cao cung bậc nỗi nhớ trong tình yêu. Nếu bốn câu thơ đầu diễn tả nỗi nhớ của con sóng:

“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”.

Thi hai câu thơ tiếp theo, nỗi nhớ của người con gái được Xuân Quỳnh nâng lên ở một cung bật cao hơn:

“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”.

7, Nghị luận văn học sóng: Khổ thơ thứ bảy

Cũng chính vì thế mà tình yêu, nỗi nhớ ở đây trở nên sâu sắc hơn, thật hơn và từ nỗi nhớ hình ảnh con sóng ở đây còn được nhà thơ Xuân Quỳnh nâng lên trở thành biểu tượng cho lòng thủy chung sắc son của người con gái. Mặc dù phải trải qua muôn vàn khó khăn cách trở nhưng con sóng vẫn đến được với bến bờ xa:

“Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”

Điều đó cũng giống như tình cảm, tấm lòng của người con gái:

“Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương”

8, Nghị luận văn học sóng: Khổ thơ thứ tám

Kết thúc dòng tâm trạng, nhà thơ trở về với suy ngẫm của riêng mình:

“Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mưa vẫn bay về xa”

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”

Xuân Quỳnh đến với tình yêu bằng một niềm tin to lớn, niềm tin ấy xuất phát từ lòng tin ở mình, ở người, ở những quy luật của tự nhiên. Triết lý trong thơ Xuân Quỳnh là triết lý của một trái tim dạt dào yêu thương, muốn tìm thêm lí lẽ và cơ sở để cũng cố lòng tin của mình vào tình yêu.

Xuất phát từ lòng tin ấy, Xuân Quỳnh kết thúc bài thơ bằng những cảm nhận tinh tế, bằng sự trôi chảy của thời gian, của đời người đồng thời thể hiện một khát vọng mãnh liệt về sự bất tử của tình yêu:

8, Nghị luận văn học sóng: Khổ thơ thứ chín

Cuộc đời tuy dài nhưng không phải là vô cùng, thời gian vẫn không ngừng đi qua tới ngày sau vô tận “như biển kia dẫu rộng” nhưng những chân mây mái miết vẫn bay về xa thế thì “Cuộc đời” và cả “Biển kia” cũng vậy, cũng hạn hẹp trong cái giới hạn của mình, không thể lâu bền vĩnh viễn. Chỉ có sóng mới mãi mãi “ngàn năm vẫn vỗ” và như thế vượt khỏi cái hữu hạn để hòa vào cái vô hạn bền vững muôn đời, là khát khao không nguôi của sóng:

Đến đây, ý hàm ẩn của khổ thơ cuối cùng và cũng là của cả bài thơ hiện rõ: khát vọng được hòa vào những lớp sóng vô hồi trên đại dương, để được vĩnh viễn cũng là khát vọng của tình yêu cá nhân hạn hẹp muốn hòa vào biển lớn tình yêu, rộng lớn muôn đời và như thế, tình yêu mới lâu dài bền vững.

Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là một tác phẩm đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật. Qua bài nghị luận văn học sóng ta thấy được thành công của bài thơ chính là ở những cảm xúc rất thật, rất chân thành của nhân vật trữ tình. Cuối cùng cũng phải kế đến sự tài hoa trong ngòi bút của Xuân Quỳnh với cách sử dụng thể thơ năm chữ cùng với các biện pháp nghệ thuật tinh tế.